[ Ngày tạo:
24/09/2011
]
GS, TSKH. ĐÀO TRỌNG THI
Ủy viên Trung ương Đảng,
Chủ nhiệm UB VH, GD, Thanh-Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã
khẳng định cần đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, đồng
thời xác định đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng
cao kết hợp với phát triển khoa học-công nghệ (KH-CN) là một trong ba
khâu đột phá của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) giai
đoạn 2011-2020. Việc thực hiện nhiệm vụ trọng đại nói trên cần xuất phát
từ việc xác lập triết lý giáo dục với tư cách là nền tảng tư tưởng chỉ
đạo và tầm nhìn để định hướng quá trình đổi mới giáo dục nước nhà trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Triết lý giáo dục Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Có thể tiếp cận vấn đề này ở một số nội dung sau:
- Dân chủ và công bằng là
những đặc trưng quan trọng của chủ nghĩa xã hội, bởi vậy cần phải được
coi là những nguyên tắc chủ chốt của giáo dục Việt Nam (GDVN), cần được
tuân thủ nghiêm túc trong việc ban hành chủ trương, chính sách về giáo
dục cũng như trong tổ chức, quản lý, hoạt động giáo dục và tinh thần dân
chủ, công bằng cần được phản ánh trong nội dung, phương pháp giáo dục.
GDVN là nền giáo dục nhân
dân, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, tạo môi trường trao đổi,
thảo luận thẳng thắn, không mang tính áp đặt, nhất là đối với những vấn
đề liên quan đến sự quan tâm và lợi ích chung của xã hội, cộng đồng,
tập thể.
Dân chủ nhà trường dựa
trên nguyên tắc công khai, minh bạch, đảm bảo cung cấp thông tin về
chính sách và hoạt động của nhà trường một cách đầy đủ, chính xác, kịp
thời cho người học và xã hội, tạo điều kiện để nhân dân kiểm tra và thực
hiện giám sát, phản biện xã hội đối với nhà trường.
Công bằng là tính ưu việt
của chế độ xã hội chủ nghĩa. Công bằng trong giáo dục có nghĩa là công
bằng trong thụ hưởng phúc lợi xã hội về giáo dục cơ bản, phổ biến cũng
như bình đẳng về cơ hội học tập và phát triển năng lực phù hợp với
nguyện vọng và khả năng của từng cá nhân.
- Nhân văn, khoa học,
hiện đại, dân tộc và đại chúng là những tính chất cơ bản của một nền
giáo dục tiên tiến, không những phải được thấm nhuần trong chương trình,
nội dung và phương pháp giáo dục mà còn phải được quán triệt trong tổ
chức và hoạt động giáo dục. Tức là, GDVN phải hướng tới mục tiêu vì con
người, tạo mọi điều kiện cho con người tự do phát triển nhân cách phù
hợp với sở thích và năng lực của từng cá nhân. Bước vào nền kinh tế tri
thức, nhu cầu học tập nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghề nghiệp
ngày càng cao, tạo nên xu thế đại chúng hóa giáo dục, kể cả giáo dục đại
học và nghề nghiệp. GDVN cần đẩy mạnh hội nhập quốc tế để sớm vươn lên
ngang tầm các nền giáo dục tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.
GDVN một mặt phát huy bản sắc văn hóa, truyền thống văn hiến hàng ngàn
năm và tinh thần hiếu học của dân tộc, mặt khác tiếp thu tinh hoa văn
hóa nhân loại.
- Những tư tưởng sâu sắc
về vấn đề học gì, học thế nào, học để làm gì được đúc kết trong lịch sử
giáo dục của dân tộc Việt Nam cần trở thành những nguyên lý chủ đạo của
GDVN hiện đại. Trả lời cho câu hỏi: “Học gì?”, ông cha ta đã có câu nói
rất chí lý “dạy làm người trước khi dạy chữ”, đồng nghĩa với giáo lý của
Đạo Khổng: “Tiên học lễ, hậu học văn” để giải quyết mối quan hệ giữa
giáo dục năng lực học thuật với giáo dục phẩm chất đạo đức.
Triết lý “học đi đôi với
hành” đề cập đến cả ba vấn đề nêu trên. Đối với câu hỏi: “Học gì?”,
triết lý này giải đáp mối quan hệ giữa lý thuyết và ứng dụng, thực hành,
giữa kiến thức và kỹ năng. Triết lý này cũng góp phần giải đáp vấn đề
“học thế nào”: để tiếp thu, làm chủ kiến thức thì phải thực hành, phải
liên hệ với thực tiễn, phải vận dụng kiến thức trong thực tiễn, phải tự
học, trau dồi, tìm hiểu kiến thức. Cuối cùng, đối với câu hỏi “Học để
làm gì?” triết lý này khẳng định học để thực hiện những điều đã học
trong cuộc sống.
Đối với câu hỏi “Học để
làm gì?” ông cha ta cũng có câu trả lời xác đáng: “Học để giúp nước,
giúp đời” nhằm phản bác lại tư tưởng tư lợi “vinh thân phì gia”: học để
làm quan, để hưởng vinh hoa phú quý.
Những điều diễn giải trên
đây có thể phát biểu bằng ngôn ngữ của giáo dục hiện đại như sau: Mục
tiêu của giáo dục là đào tạo nhân lực, nhân tài phục vụ phát triển đất
nước; chương trình, nội dung giáo dục phải toàn diện, chú trọng cả đào
tạo kiến thức, kỹ năng và giáo dục phẩm chất đạo đức, cân đối giữa lý
thuyết và thực hành; phương pháp giáo dục phải chú trọng thực hành, tự
học.
- Các tư tưởng giáo dục
truyền thống cần được phát triển, nâng cao và bổ sung thêm những nội
dung mới để đáp ứng yêu cầu của nền GDVN trong thời kỳ đổi mới.
Tư duy độc lập, sáng tạo
là phẩm chất rất quan trọng đối với nhân lực trình độ cao trong thế giới
hiện đại. Năng lực tư duy độc lập, sáng tạo có thể rèn luyện thông qua
hoạt động tự học và nghiên cứu khoa học.
Trong mấy năm gần đây
ngành giáo dục tăng cường thực hiện chủ trương “giáo dục đáp ứng nhu cầu
xã hội”, tập trung vào điều chỉnh cơ cấu ngành nghề và chương trình,
nội dung giáo dục cho phù hợp với yêu cầu sử dụng lao động, đồng thời
khuyến khích, thúc đẩy sự hợp tác, liên kết giữa các cơ sở giáo dục với
các cơ sở sản xuất kinh doanh. Đây là một chủ trương đúng đắn, việc xác
định cơ cấu ngành nghề và chương trình, nội dung giáo dục phù hợp với
yêu cầu của các cơ sở sử dụng nhân lực là rất cần thiết, góp phần quan
trọng để cải thiện chất lượng giáo dục, nhưng thực chất chỉ là một giải
pháp ở tầm nhà trường và chưa tiếp cận được bản chất của quan điểm “giáo
dục đáp ứng nhu cầu xã hội”.
Từ cách tiếp cận trên, có
thể bước đầu xác định tầm nhìn cho việc giải đáp những vấn đề cơ bản,
cấp bách của GDVN hiện nay như sau:
1. Tháo gỡ nút thắt trong quan hệ giữa quy mô và chất lượng giáo dục
Nhu cầu về nguồn nhân lực
của nền KT-XH đang phát triển nhanh và hội nhập sâu rộng của nước ta
trong giai đoạn hiện nay đang vượt xa khả năng đáp ứng của hệ thống nhà
trường cả về quy mô, cơ cấu ngành nghề, trình độ và chất lượng giáo dục.
Quy mô giáo dục mặc dù đã được nới rộng rất nhiều so với năng lực thực
tế của các cơ sở giáo dục nhưng vẫn còn quá nhỏ để đáp ứng nhu cầu học
tập của xã hội ở tất cả các bậc học, nhất là giáo dục mầm non, giáo dục
trung học phổ thông và giáo dục nghề nghiệp (đại học, cao đẳng, trung
học chuyên nghiệp và dạy nghề) và nhu cầu đang tăng cao đối với các dịch
vụ giáo dục chất lượng cao.
Trong nhiều năm qua,
ngành giáo dục đã quá chú trọng theo đuổi các mục tiêu về quy mô giáo
dục (như chỉ tiêu số sinh viên trên vạn dân) mà chưa quan tâm thỏa đáng
và thiếu các biện pháp quản lý chặt chẽ các điều kiện bảo đảm chất lượng
giáo dục. Mặt khác, nhu cầu học tập của xã hội cùng với tâm lý chuộng
bằng cấp, khoa cử trong nhân dân đã tạo áp lực có chiều hướng ngày càng
căng thẳng, quyết liệt. Trong bối cảnh đó, nhiều cơ sở giáo dục, đặc
biệt là các cơ sở giáo dục đại học, đã chạy theo lợi ích cục bộ, mở rộng
quy mô tuyển sinh quá mức, bất chấp yêu cầu về chất lượng giáo dục.
Theo Báo cáo kết quả giám sát số 329/BC- UBTVQH12 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội được trình tại kỳ họp thứ 7 của Quốc hội khóa XII (tháng 6 năm
2010) về “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về thành lập trường, đầu
tư và bảo đảm chất lượng giáo dục đại học” thì trong giai đoạn 1998-2009
hệ thống các trường đại học, cao đẳng phát triển quá nhanh, quy hoạch
mạng lưới giáo dục đại học còn thiếu cụ thể, bất hợp lý và chậm được
điều chỉnh. Phần lớn các cơ sở giáo dục đại học mới được thành lập, nhất
là các cơ sở giáo dục đại học địa phương và các cơ sở giáo dục đại học
ngoài công lập không bảo đảm các điều kiện thành lập trường nhưng đã vội
tuyển sinh với số lượng lớn. Quy mô đào tạo của hầu hết các cơ sở giáo
dục đại học, nhất là các cơ sở giáo dục ngoài công lập và các cơ sở giáo
dục mới thành lập đã vượt quá xa so với điều kiện bảo đảm chất lượng
giáo dục của chính mình, dẫn đến tình trạng là nguồn nhân lực do các cơ
sở giáo dục đại học cung cấp không đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao
của thị trường nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao của nền
KT-XH đang hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Hậu quả là sản phẩm đào
tạo không được các cơ sở sử dụng nhân lực, nhất là những cơ sở sản xuất
kinh doanh, dịch vụ hiện đại, có mức độ hội nhập quốc tế cao chấp nhận,
mặc dù có nhu cầu thực sự. Nguyên nhân của hiện tượng nêu trên chính là
do giáo dục đại học nước ta thời gian qua đã làm ngược với triết lý giáo
dục: phát triển giáo dục để đào tạo nhân lực, nhân tài phục vụ đất
nước.
Như vậy, quyết sách giải
quyết mối quan hệ giữa quy mô và chất lượng giáo dục ở nước ta trong
giai đoạn hiện nay là: Chất lượng giáo dục phải đáp ứng yêu cầu phát
triển KT-XH. Đồng thời phát triển quy mô giáo dục phù hợp với khả năng
bảo đảm chất lượng giáo dục.
2. Coi xã hội hóa đầu tư cho giáo dục như đầu tư cho phát triển
Phát triển KT-XH đất nước
đòi hỏi đội ngũ nhân lực hùng hậu cả về quy mô lẫn chất lượng. Rất tiếc
là hai yếu tố này thường vận động trái chiều nhau và trong hoàn cảnh
nguồn lực đầu tư cho giáo dục còn rất hạn hẹp như ở nước ta hiện nay,
hai yếu tố quan trọng nói trên của đội ngũ nhân lực đang xung đột gay
gắt với nhau và chúng ta không thể đáp ứng đầy đủ đồng thời cả hai yêu
cầu này trong phát triển giáo dục.
Quyết sách về mối quan hệ
giữa quy mô và chất lượng giáo dục mà chúng ta lựa chọn ở trên chỉ là
một giải pháp mang tính tình huống khi khả năng đầu tư cho giáo dục còn
hạn chế, hoàn toàn không phải là mục tiêu mà chúng ta mong muốn. Như vậy
giải pháp triệt để cho vấn đề quy mô và chất lượng giáo dục không chỉ
đóng khung trong mối quan hệ giữa hai yếu tố này mà cần mở rộng phạm vi
xem xét, cụ thể là cần xác định trong khâu đầu tư cho giáo dục.
Với quan điểm giáo dục là
quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, trong
15 năm qua kể từ sau Hội nghị Trung ương 2 (khóa VIII), tỉ trọng ngân
sách Nhà nước hàng năm dành cho giáo dục liên tục tăng mạnh và đã đạt
mức 20% từ năm 2007 đến nay. Đây là một con số thống kê khá ấn tượng,
thể hiện sự quan tâm và ưu tiên lớn của Đảng và Nhà nước đối với sự
nghiệp phát triển giáo dục nước nhà. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh KT-XH
của nước ta hiện nay khó có thể tăng thêm đáng kể trong vòng một vài năm
tới. Bởi vậy, vấn đề cải thiện ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục
cần tập trung chủ yếu vào việc phát huy hiệu quả quản lý và sử dụng
nguồn kinh phí được phân bổ.
Hiện nay, cơ chế kinh tế
thị trường đang từng bước được định hình và sự hội nhập kinh tế quốc tế
ngày càng sâu rộng với sự phân biệt rõ nét về thu nhập và mức sống giữa
các bộ phận dân cư, dẫn đến nhu cầu sử dụng nhân lực và nhu cầu học tập
của nhân dân ngày càng cao và đa dạng. Bởi vậy, ngân sách nhà nước đầu
tư cho giáo dục không thể phân phối theo kiểu bình quân, cào bằng như
trước kia mà phải tập trung ưu tiên cho các cấp giáo dục phổ cập và giáo
dục đại trà, cho đào tạo nhân tài và các ngành học theo nhu cầu của Nhà
nước (sư phạm, văn hóa truyền thống, khoa học cơ bản...), cho giáo dục ở
miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa cũng như hỗ trợ các đối tượng
chính sách, gia đình nghèo (thông qua học bổng, trợ cấp hoặc tín dụng
sinh viên...). Mặt khác, cần phát triển các dịch vụ giáo dục nhằm đáp
ứng nhu cầu học tập đa dạng của xã hội (về môi trường, điều kiện học
tập, về ngành nghề, về chất lượng giáo dục...) theo tinh thần tự nguyện.
Đối với các chương trình giáo dục chất lượng cao, các dịch vụ bổ sung
nhằm đáp ứng nhu cầu của một bộ phận người học thì người học phải tự
trang trải kinh phí.
Việc đầu tư ngân sách Nhà
nước cho các cơ sở giáo dục công lập phải có trọng điểm, không bình
quân, dàn trải, manh mún để tránh lãng phí và kém hiệu quả. Ngành giáo
dục, trước hết là giáo dục nghề nghiệp, cần sớm thực hiện cơ chế hỗ trợ
ngân sách Nhà nước trực tiếp cho đối tượng được thụ hưởng và nghiên cứu
chuyển các nhiệm vụ giáo dục của Nhà nước thành các dịch vụ công để đặt
hàng cho các cơ sở giáo dục, không phân biệt công hay tư thực hiện, tạo
động lực cạnh tranh giữa các cơ sở giáo dục cũng như đảm bảo công bằng
giữa các cơ sở giáo dục công lập và ngoài công lập.
Khối các cơ sở giáo dục
công lập là lực lượng chủ lực thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước và các
dịch vụ công trong giáo dục và giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống giáo
dục quốc dân.
Xã hội hóa giáo dục là
chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước và là giải pháp mang tính chiến
lược, lâu dài nhằm huy động sức mạnh vật chất và tinh thần của toàn xã
hội tham gia chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục. Thực hiện xã hội hóa
giáo dục một mặt có thể huy động thêm đáng kể nguồn lực đầu tư ngoài
Nhà nước bổ sung cho các cơ sở giáo dục công lập. Nhưng mục tiêu trọng
tâm của chính sách xã hội hóa giáo dục là tạo điều kiện thúc đẩy việc
thành lập và phát triển các cơ sở giáo dục ngoài công lập đáp ứng tốt
yêu cầu ngày càng cao về nguồn nhân lực phục vụ phát triển KT-XH cũng
như nhu cầu xã hội ngày càng lớn và đa dạng về học tập. Đến nay, khối
các cơ sở giáo dục ngoài công lập đã hình thành và phát triển mạnh mẽ.
Trong hơn hai chục năm qua, có 78 cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập
đã được thành lập và tham gia hoạt động giáo dục, chiếm 12,7% tổng quy
mô giáo dục đại học của cả nước (tính đến tháng 12/2009).
Tuy nhiên, các cơ sở giáo
dục ngoài công lập, đặc biệt là ở các bậc giáo dục đại học cũng bộc lộ
nhiều bất cập như: nguồn vốn đầu tư nhỏ, lẻ; đội ngũ giảng viên cơ hữu
ít về số lượng và yếu về trình độ, kinh nghiệm chuyên môn; phải thuê
mướn cơ sở vật chất và giảng viên từ các cơ sở giáo dục công lập và các
cơ quan Nhà nước khác. Tình hình nêu trên không những vi phạm các điều
kiện thành lập trường và các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục của
chính các cơ sở giáo dục ngoài công lập mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến
chất lượng giáo dục của các cơ sở giáo dục công lập có liên quan. Nhưng
đáng lo ngại hơn cả là trên thực tế, các cơ sở giáo dục ngoài công lập
chủ yếu chia sẻ khai thác, sử dụng các nguồn lực Nhà nước sẵn có cùng
với các cơ sở giáo dục công lập mà chưa huy động được nhiều nguồn lực
ngoài Nhà nước để bổ sung đầu tư cho giáo dục như mong muốn.
Để hấp dẫn và thu hút các
nhà đầu tư, nhất là những nhà đầu tư chiến lược với vốn đầu tư lớn,
nhưng vẫn tránh được khuynh hướng thương mại hóa giáo dục nhằm bảo vệ
lợi ích xã hội nói chung và quyền lợi của người học nói riêng, Nhà nước
cần chấp nhận một mức lợi nhuận hợp lý với những điều kiện nhất định
trong hoạt động giáo dục và ưu tiên thành lập các cơ sở giáo dục ngoài
công lập, đặc biệt là các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có vốn đầu tư lớn
và đáp ứng tốt các điều kiện thành lập trường. Khuyến khích các cơ sở
giáo dục ngoài công lập, kể cả các cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước
ngoài hoạt động phi lợi nhuận bằng các chính sách về thuế, sử dụng đất
đai, tín dụng, hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng giảng viên... với sự phân biệt
mức độ ưu tiên giữa các cơ sở giáo dục ngoài công lập hoạt động phi lợi
nhuận và các cơ sở giáo dục ngoài công lập có lợi nhuận hợp lý. Về thực
chất, các cơ sở giáo dục ngoài công lập hoạt động phi lợi nhuận có hình
thức sở hữu cộng đồng, phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa trong thể
chế kinh tế thị trường, bởi vậy cần được miễn thuế và hưởng các chính
sách ưu tiên khác tương tự như đối với các cơ sở giáo dục công lập. Cùng
với sự phát triển KT-XH đất nước và với chính sách khuyến khích, ưu
tiên của Nhà nước, khối các cơ sở giáo dục ngoài công lập hoạt động phi
lợi nhuận sẽ càng phát triển lớn mạnh và cùng với các cơ sở giáo dục
công lập trở thành nòng cốt của hệ thống giáo dục quốc dân.
3. Tạo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, phát huy tính năng động, sáng tạo của cơ sở giáo dục
Việc giao quyền tự chủ
cho các cơ sở giáo dục, đặc biệt là các cơ sở giáo dục nghề nghiệp là
yêu cầu tất yếu, khách quan và phù hợp xu thế phát triển của giáo dục
hiện đại. Quyền tự chủ phát huy tính dân chủ, năng động, sáng tạo của cơ
sở giáo dục. Nhưng quyền tự chủ chỉ có thể được thực hiện và phát huy
tác dụng tích cực trong một khung khổ pháp lý phù hợp, tức là cần ban
hành một cơ chế quản lý để bảo đảm thực thi quyền tự chủ của các cơ sở
giáo dục trên thực tế. Có thể nói, nếu chính sách xã hội hóa giáo dục
góp phần quan trọng tăng đầu tư cho giáo dục từ các nguồn lực xã hội thì
việc giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục xác lập một cơ chế quản
lý năng động, tạo điều kiện thông thoáng cho hoạt động giáo dục vận hành
với chất lượng, hiệu quả cao hơn.
Cơ chế tự chủ, tự chịu
trách nhiệm cần quy định phạm vi, nguyên tắc và điều kiện giao quyền tự
chủ cho các cơ sở giáo dục. Đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ
chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm có thể bao gồm những nội dung cơ bản
sau:
Một là, cơ sở giáo
dục nghề nghiệp được quyền tự chủ trong phạm vi các hoạt động đào tạo,
khoa học-công nghệ (KH-CN), hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng đào tạo
(nhóm quyền tự chủ về hoạt động chuyên môn) và các công tác tổ chức-cán
bộ, kế hoạch-tài chính... (nhóm quyền tự chủ về quản lý hành chính).
Hai là, cơ sở giáo
dục nghề nghiệp, theo nguyên tắc, được giao quyền tự chủ tương ứng với
vị trí, vai trò, nhiệm vụ của cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong hệ thống
giáo dục quốc dân cũng như với khả năng tự đáp ứng kinh phí hoạt động và
năng lực thực hiện quyền tự chủ được quy định thành các tiêu chuẩn,
tiêu chí cụ thể và được đánh giá bằng kết quả kiểm định chất lượng của
cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Cơ sở giáo dục nghề
nghiệp có hành vi vi phạm hoặc giảm sút khả năng tự đáp ứng kinh phí
hoạt động và năng lực thực hiện quyền tự chủ thì bị thu hồi hoặc hạ mức
tự chủ.
Ba là, về điều
kiện giao quyền tự chủ, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải cam kết
trách nhiệm khi thực hiện quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trước xã
hội và pháp luật về hoạt động được giao quyền tự chủ của mình.
Đối với cơ sở giáo dục
nghề nghiệp công lập được giao quyền tự chủ cao, Hội đồng trường là
thiết chế cần thiết để đại diện cho chủ sở hữu là Nhà nước (thay cho cơ
quan chủ quản) thực hiện vai trò quản lý đối với cơ sở giáo dục nghề
nghiệp. Hoạt động của hội đồng trường tạo ra cơ chế kiểm soát quyền lực,
giám sát hoạt động điều hành của người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề
nghiệp, tránh tình trạng độc đoán, mất dân chủ. Theo quy định của Luật
Giáo dục hiện hành, hội đồng trường là thiết chế bắt buộc trong cơ cấu
tổ chức của cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Nhưng đã sáu năm trôi qua kể từ
khi Luật Giáo dục có hiệu lực, quy định này vẫn chưa được thực hiện ở
phần lớn các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập, còn đối với số ít cơ
sở giáo dục nghề nghiệp công lập đã thành lập hội đồng trường thì tổ
chức này chỉ mang tính hình thức, không phát huy được vai trò quản lý
của mình. Sở dĩ có tình trạng như vậy là do các cơ sở giáo dục công lập
chưa được giao quyền tự chủ đủ mức cần thiết để cần có hội đồng trường.
Mặt khác, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của hội đồng trường chưa được
quy định rõ ràng, mối quan hệ giữa hội đồng trường với thủ trưởng cơ sở
giáo dục nghề nghiệp chưa đảm bảo được vị thế độc lập của hội đồng
trường.
4. Chất lượng giáo dục phải đáp ứng yêu cầu phát triển KT- XH
Chất lượng giáo dục của
một chương trình giáo dục hoặc của một cơ sở giáo dục đánh giá mức độ
đáp ứng của chương trình giáo dục hoặc của cơ sở giáo dục đó đối với yêu
cầu phát triển KT-XH. Để đo lường chất lượng giáo dục, hoạt động kiểm
định chất lượng phân tích, đánh giá các yếu tố chủ yếu tác động đến chất
lượng giáo dục, gọi là các điều kiện bảo đảm chất lượng, bao gồm:
- Chương trình giáo dục, sách giáo khoa, giáo trình
- Đội ngũ giảng viên, cán bộ
- Năng lực học tập của người học
- Cơ sở vật chất, nguồn lực tài chính và môi trường giáo dục
Hiện nay, chất lượng giáo
dục đại trà ở nước ta còn thấp, số chương trình và cơ sở giáo dục đạt
chuẩn quốc gia chưa nhiều, một số chương trình giáo dục chất lượng cao ở
các cơ sở giáo dục có uy tín được đánh giá tương đương chuẩn khu vực và
một số chương trình giáo dục năng khiếu, tiên tiến hoặc liên kết quốc
tế được đánh giá ngang tầm chuẩn quốc tế. Trong tương lai, theo yêu cầu
KT-XH ngày một phát triển và hội nhập quốc tế, chất lượng giáo dục đại
trà cần sớm đạt chuẩn quốc gia, còn chuẩn quốc gia từng bước vươn lên
tiếp cận chuẩn khu vực và quốc tế. Khi đo,á đất nước ta sẽ có một nền
giáo dục tiên tiến, hiện đại ngang tầm quốc tế.
Quan điểm “giáo dục đáp
ứng nhu cầu xã hội” có thể được vận dụng để xác định giải pháp đột phá
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói
riêng. Những năm qua, ngành giáo dục đã xác định được thách thức lớn
nhất của giáo dục đại học nước ta là chất lượng đào tạo, nhưng lại tập
trung tìm kiếm giải pháp tháo gỡ trong chính khâu đào tạo, cụ thể là
tăng cường các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo và công tác quản lý.
Các giải pháp này trong giai đoạn đầu đã góp phần cải thiện chất lượng
đào tạo, nhưng khi áp dụng triệt để sẽ khó khăn không hóa giải được:
việc đầu tư đủ mức cho các điều kiện đảm bảo chất lượng vượt quá xa khả
năng đáp ứng của ngân sách Nhà nước cũng như khả năng đóng góp của người
học; việc trả lương và thu học phí mang nặng tính bình quân như hiện
nay không khuyến khích người học và cơ sở đào tạo đầu tư cho mục tiêu
chất lượng, hơn nữa, người học không thể chấp nhận đóng học phí cao
trong khi mức thu nhập sau khi tốt nghiệp lại quá thấp, không đủ bù đắp
cho chi phí học tập đã đầu tư. Phải chăng chúng ta phải xác định giải
pháp đột phá cho thách thức này trong khâu sử dụng nhân lực, bởi vì nhu
cầu xã hội chi phối quy trình và chất lượng đào tạo. Cùng với sự phát
triển và hội nhập quốc tế mạnh mẽ của kinh tế xã hội đất nước, sự tranh
đua nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất kinh doanh đang làm
tăng nhanh nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao và các cơ sở sử
dụng nhân lực sẵn sàng trả lương cao để thu hút nguồn nhân lực này. Đây
là tiền đề thuận lợi để thực thi chính sách trả lương theo chất lượng
nhân lực, kéo theo chính sách thu học phí theo chất lượng đào tạo. Các
chính sách này tạo động lực khuyến khích người học đầu tư theo học các
chương trình đào tạo chất lượng cao, từ đó tạo động lực thúc đẩy các cơ
sở đào tạo đầu tư phát triền các chương trình đào tạo này. Phải chăng
đây chính là giải pháp đột phá nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại
học.
Từ nhiều năm nay, trên cơ
sở kết hợp tiêu chí chất lượng cao và yếu tố phân bố theo vùng miền,
lĩnh vực, ngành giáo dục đã xác định 14 cơ sở đại học trọng điểm bao
gồm: 2 đại học quốc gia, 3 đại học vùng, trường đại học Cần Thơ và 9
trường đại học đầu ngành về các lĩnh vực: kinh tế, kỹ thuật công nghiệp,
nông nghiệp, sư phạm, y tế. Cần nhanh chóng hoàn chỉnh mô hình và quy
hoạch phát triển để tập trung đầu tư cho các cơ sở đại học trọng điểm
này đủ năng lực đảm đương được nhiệm vụ chủ lực đào tạo nguồn nhân lực
chất lượng cao cho kinh tế xã hội cả nước cũng như các vùng miền và các
lĩnh vực KT - XH then chốt.
Bên cạnh đó, một số
trường đại học quốc tế do Nhà nước hợp tác với một số nước phát triển
thành lập hoặc có vốn đầu tư nước ngoài cùng tham gia cung cấp nguồn
nhân lực chất lượng quốc tế. Tuy nhiên việc tổ chức và hoạt động của các
cơ sở đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cũng cần đổi mới theo hướng:
- Cần sớm hoàn chỉnh cơ
cấu chuyên môn đa ngành, đa lĩnh vực hợp lý, tương thích với cơ cấu tổ
chức hai cấp (đại học và các trường đại học thành viên) của các đại học
quốc gia và đại học vùng, hình thành cơ chế điều hòa, phối hợp nhằm đảm
bảo tính liên thông, thống nhất trên cơ sở khai thác hiệu quả thế mạnh
đa ngành, đa lĩnh vực, tính tự chủ cao và khả năng chia sẻ, dùng chung
cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ.
- Để bảo đảm tính tự chủ
cao của các đại học vùng và các trường đại học thành viên, cần nâng cấp
hành chính các đại học này tương đương với tổng cục trực thuộc Bộ Giáo
dục - Đào tạo, là đơn vị tài chính cấp một. Sớm có kế hoạch phát triển
trường đại học Cần Thơ thành đại học vùng phù hợp với vị thế của vùng
Đồng bằng Sông Cửu Long, có mô hình tổ chức hai cấp phù hợp với cơ cấu
đa ngành, đa lĩnh vực đang hình thành trên thực tế.
- Quy hoạch và lộ trình
phát triển các đại học quốc gia, đại học vùng, trường đại học trọng điểm
thành các cơ sở đại học chất lượng cao cần thiết kế theo phương châm
từng bước lựa chọn một số ngành, lĩnh vực khoa học cơ bản, công nghệ cao
và kinh tế - xã hội mũi nhọn, đặc thù và tập trung đầu tư phát triển
nhằm tiếp cận trình độ khu vực, quốc tế.
- Đối với các cơ sở đại
học quốc tế công lập, cần nghiên cứu cơ chế tài chính để khắc phục bất
cập về đầu tư ngân sách nhà nước hiện nay: các cơ sở đại học này (tương
tự một số chương trình đào tạo tiên tiến) một mặt được Nhà nước đầu tư
rất lớn, mặt khác vẫn thu học phí rất cao, do đó sinh viên theo học
không phải là những học sinh xuất sắc, mà là con em các gia đình giàu
có, không thuộc diện được ưu tiên hỗ trợ từ ngân sách nhà nước.
Tự học là phương pháp học
tập giúp người học làm chủ kiến thức và phát triển tư duy độc lập, sáng
tạo một cách hiệu quả. Những năm gần đây, giáo dục đại học nước ta đẩy
mạnh đào tạo theo tín chỉ, nhưng chủ yếu tập trung vào cơ chế tích lũy
tín chỉ mà không hoặc ít đề cập đến nội dung và phương pháp dạy học khối
kiến thức của từng tín chỉ. Hình thức tổ chức đào tạo mới này nếu được
áp dụng triệt để có thể tạo cơ hội thuận lợi cho sinh viên thiết kế kế
hoạch học tập riêng phù hợp với năng lực và điều kiện của từng cá nhân
nhưng đòi hỏi tăng cường nhiều về cơ sở vật chất và lực lượng giảng
viên. Trong khi đó, sinh viên hệ chính quy chủ yếu học tập trung và toàn
bộ thời gian, ít nhu cầu có kế hoạch học tập riêng. Một yếu tố quan
trọng của đào tạo theo tín chỉ là giảm thời lượng lên lớp và tăng thời
lượng tự học, dẫn đến đổi mới chương trình, nội dung đào tạo và phương
pháp dạy học. Trong 5 năm qua, Đại học Quốc gia Hà Nội đã triển khai đào
tạo theo tín chỉ nhưng xuất phát từ việc đổi mới chương trình, nội dung
và phương pháp đào tạo theo hướng tăng cường tự học. Như vậy là phù hợp
với yêu cầu và điều kiện của giáo dục đại học nước ta.
5. Nghiên cứu KH-CN phục vụ đào tạo và phát triển KT-XH
Hoạt động KH-CN trong các cơ sở giáo dục đại học nhằm các mục tiêu sau:
Một là, nâng cao
chất lượng đào tạo. Việc tham gia nghiên cứu và triển khai ứng dụng
KH-CN giúp nâng cao trình độ khoa học của đội ngũ giảng viên; đổi mới bổ
sung, cập nhật kiến thức nhằm nâng cao chất lượng giáo trình, bài
giảng. Việc tập luyện nghiên cứu khoa học dưới hình thức thực hiện khóa
luận, luận văn, luận án và tham gia nghiên cứu khoa học trong khuôn khổ
các đề tài, dự án KH-CN dưới sự hướng dẫn của giảng viên có trình độ
khoa học cao làm hình thành và phát triển năng lực nghiên cứu khoa học,
tư duy độc lập sáng tạo ở người học. Thông qua hoạt động nghiên cứu khoa
học của người học, nhà trường phát hiện và bồi dưỡng nhân tài cho đất
nước.
Hai là, phát triển
KT-XH. Hoạt động KH-CN theo mục tiêu này góp phần phát triển tri thức,
sáng tạo công nghệ, giải pháp mới, cung ứng các sản phẩm và dịch vụ
KH-CN có giá trị phục vụ phát triển KT-XH.
Nghiên cứu KH-CN cùng với
đào tạo là hai nhiệm vụ cơ bản của cơ sở giáo dục đại học, đặc biệt là ở
bậc đào tạo sau đại học. Hai nhiệm vụ này gắn kết chặt chẽ với nhau.
Hoạt động đào tạo cung cấp nguồn nhân lực trình độ cao cho phát triển
KH-CN và đội ngũ giảng viên trực tiếp tham gia hoạt động KH-CN. Ngược
lại, mục tiêu đầu tiên của hoạt động KH-CN trong cơ sở giáo dục đại học
chính là nâng cao chất lượng đào tạo. Theo kết quả giám sát của Quốc
hội, hoạt động KH-CN, nhất là hoạt động KH-CN với mục tiêu phát triển
KT-XH ở các cơ sở giáo dục đại học hiện nay còn rất yếu. Tỉ trọng hoạt
động KH-CN của phần lớn các cơ sở giáo dục đại học, đặc biệt là các cơ
sở giáo dục đại học dân lập còn rất thấp. Tuy nhiên, không thể đòi hỏi
các cơ sở giáo dục đại học phải thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu và triển
khai ứng dụng KH-CN ở mức như nhau. Hoạt động KH-CN nhằm nâng cao chất
lượng đào tạo cần được coi là nhiệm vụ bắt buộc đối với tất cả các cơ sở
giáo dục đại học, kể cả các cơ sở giáo dục đại học dân lập. Kinh phí
phục vụ cho hoạt động KH-CN loại này được lấy từ nguồn kinh phí KH-CN
thường xuyên hoặc trích từ kinh phí đào tạo của cơ sở giáo dục đại học.
Trong khi đó, đối với hoạt động KH-CN nhằm phát triển KT-XH thì các cơ
sở giáo dục đại học cần cân nhắc khả năng về cơ sở vật chất và năng lực
đội ngũ cán bộ khoa học của mình để tham gia ở mức độ phù hợp. Kinh phí
đầu tư cho hoạt động KH-CN loại này được lấy từ các đề tài, dự án KH-CN
do nhà nước đặt hàng, các dự án hợp tác quốc tế, các hợp đồng kinh tế và
nguồn thu từ việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ KH-CN.
Trên thế giới, trường đại
học có tỉ trọng đào tạo sau đại học và tỉ trọng hoạt động KH-CN rất cao
(vượt mức 50%) được gọi là trường đại học nghiên cứu. Các trường đại
học nghiên cứu rất chú trọng hoạt động KH-CN nhằm phát triển KT-XH. Giáo
dục đại học Việt Nam cần tập trung đầu tư phát triển các đại học quốc
gia, đại học vùng và các trường đại học trọng điểm trong từng lĩnh vực
thành các đại học nghiên cứu hoặc đại học định hướng nghiên cứu (với tỷ
trọng đào tạo sau đại học và tỷ trọng hoạt động KH-CN cũng cao nhưng
không bằng các đại học nghiên cứu)./.
Nguồn: Tuyengiao.vn